rakuten left binance left net_left adver left
Detail

Các kịch bản cho thị trường BĐS giai đoạn cuối năm. Thị trường Việt Nam 13/9

Theo Dong Hai AiVIF.com – Thị trường Việt Nam khởi động tuần mới với 3 thông tin cần chú ý: thị trường BĐS giai đoạn cuối năm dự kiến có những kịch bản nào? Giá đồng tăng nóng...
Các kịch bản cho thị trường BĐS giai đoạn cuối năm. Thị trường Việt Nam 13/9 © Reuters

Theo Dong Hai

AiVIF.com – Thị trường Việt Nam khởi động tuần mới với 3 thông tin cần chú ý: thị trường BĐS giai đoạn cuối năm dự kiến có những kịch bản nào? Giá đồng tăng nóng buộc các nhà sản xuất máy điều hòa không khí tìm đến một lựa chọn thay thế rẻ hơn – Đồng. Và nhu cầu chậm lại, giá cao su vẫn ở mức thấp. Dưới đây là nội dung chính 3 thông tin đáng chú ý trong phiên giao dịch hôm nay thứ Hai ngày 13/9.

1. Nhiều kịch bản cho thị trường BĐS giai đoạn cuối năm

Theo Savills Việt Nam, thị trường bất động sản có thể hy vọng về một kịch bản tốt vào cuối năm hay không đang là một câu hỏi khó. Bởi theo giới chuyên gia, việc này rất khó định đoạt mà hoàn toàn phục thuộc vào khả năng kiểm soát dịch bệnh. Điểm sáng của thị trường là cả kể trong lúc dịch bệnh, lượng cầu tuy có suy giảm nhưng vẫn rất mạnh. Kể cả nguồn cung hiện nay đang khan hiếm nhưng nếu các điểm nghẽn pháp lý được tháo gỡ, các dự án sẽ đồng loạt bung mạnh. Thị trường sau một thời gian bị nén sẽ sớm bật dậy mạnh mẽ. Do đó, thời gian tới, các nhà đầu tư dù đầu tư phân khúc nào cũng đều có cơ hội. Phân khúc nhà ở cũng sẽ vẫn sôi động, vẫn có rất nhiều người chưa mua được nhà, họ vẫn đang chờ thời điểm thích hợp để xuống tiền. Thị trường bất động sản nghỉ dưỡng mặc dù hơn một năm qua bị suy yếu vì kinh tế, đặc biệt là kinh tế du lịch,... nhưng vẫn là một thị trường tiềm năng. Ngoài ra, Chính phủ đang thúc đẩy mạnh các hoạt động đầu tư công, trong đó có hệ thống hạ tầng đô thị, hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghiệp,...

Về triển vọng thị trường những tháng cuối năm nay, bà Đỗ Thu Hằng, Giám đốc Bộ phận Tư vấn và Nghiên cứu Savills Hà Nội cho biết trong một trao đổi cùng Vietnambiz, đối với phân khúc căn hộ, đất nền, do dịch bệnh còn đang diễn biễn phức tạp nên tình hình thị trường bất động sản các tháng cuối năm sẽ chậm hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Các chủ đầu tư, các nhà đầu tư đều giữ tâm lý thận trọng trong việc tung bán cũng như các quyết định đầu tư. Đáng chú ý theo bà Hằng, giá hai phân khúc này được dự báo sẽ không giảm mặc dù đang có áp lực gia tăng về dòng tiền và việc chi trả của các nhà đầu tư. Nhận định về thị trường nhà ở sau dịch, vị chuyên gia này cho rằng, sau khi dịch COVID-19 được kiểm soát, hoạt động thị trường sau thời gian bị nén lại được dự báo sẽ sôi động hơn. Hiện nay, trên thị trường Hà Nội, các sản phẩm nhà ở với khoảng giá từ 35 triệu đồng/m2 đến hơn 40 triệu đồng/m2 đang nhiều hàng và cũng đang bán được với số lượng nhiều nhất, với lượng tiêu thụ dẫn đầu tính đến thời điểm nửa đầu năm nay. Nguồn cung căn hộ dưới mức giá này hiện đang chiếm tỷ trọng ít hơn, ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng. Trong khi đó, căn hộ cao cấp với mức giá trung bình khoảng 75 - 80 triệu đồng/m2 trở lên không nhiều, tốc độ bán cũng chậm hơn các khoảng giá khác.

Cũng trong một phỏng vấn cùng Vietnambiz, ông Matthew Powell, Giám đốc Savills Hà Nội khẳng định, thị trường vẫn tồn tại những lợi thế nền tảng về nhân khẩu học cũng như sự gia tăng trong vốn sở hữu cá nhân. Do đó, điểm tích cực là nhu cầu đối với bất động sản nhà ở vẫn được ghi nhận khá tốt.

Bên cạnh đó, Giám đốc cấp cao CBRE Việt Nam cũng đã đưa ra hai kịch bản cho thị trường bất động sản thời gian tới. Ở cả hai kịch này, thị trường đều phụ thuộc vào khả năng kiểm soát dịch bệnh, tốc độ tiêm vắc xin.

  • Nếu dịch bệnh được kiểm soát vào tháng 10 năm nay, nguồn cung chào bán sẽ giảm 29% còn khoảng 13.000 căn tại TPHCM và giảm 5% còn khoảng 17.000 căn tại Hà Nội.
  • Nếu dịch bệnh được kiểm soát vào tháng 12 năm nay, nguồn cung giảm xuống mức rất thấp.

Tại TP.HCM (HM:HCM), dự kiến cả năm bán được hơn 8.000 căn, thấp hơn so với mức trung bình một quý tại TP.HCM đã chào bán vào những năm trước. Đi cùng với đó, số căn cho thuê cũng giảm. Tại Hà Nội, số căn bán được cũng dự báo giảm, còn khoảng 14.300 căn. Tuy nhiên, theo Giám đốc cấp cao CBRE Việt Nam, dù số lượng bán giảm nhiều nhưng giá bán bình ổn, không giảm. Giá bán dự kiến sẽ được các chủ đầu tư tăng 4% đối với dự án cao cấp.

2. Giá đồng tăng nóng buộc các nhà sản xuất máy điều hòa không khí tìm đến một lựa chọn thay thế rẻ hơn – Đồng

Theo Bloomberg, nhu cầu đồng của các nhà sản xuất máy điều hòa không khí lớn trên thế giới đang có nguy cơ sụt giảm nghiêm trọng trong bối cảnh giá của nguyên liệu thô này không ngừng tăng vọt và thậm chí đạt mức cao kỷ lục trong năm nay.

Nhà sản xuất máy điều hòa hàng đầu thế giới, Daikin Industries (trụ sở tại Nhật Bản) có kế hoạch thay thế một nửa lượng đồng trong các thiết bị của hãng bằng nhôm vào năm 2025. Daikin đã sử dụng trên một số mẫu điều hòa kể từ năm 2013 và đang muốn đẩy nhanh kế hoạch này vì giá đồng tăng cao. Nhà sản xuất điều hòa lớn này hiện tiêu thụ khoảng 90.000 tấn đồng mỗi năm và sản xuất hơn 10% lượng máy điều hòa trên toàn cầu. Theo nhận định của Daikin, giá đồng không thể giảm xuống trong thời gian tới vì nhu cầu sẽ bùng nổ trong các ngành công nghiệp mới như xe điện.

Ngoài ra, Fujitsu General, một hãng điều hòa Nhật Bản khác, cũng đang chuẩn bị để chế tạo những bộ phận cần nhiều đồng như bộ trao đổi nhiệt bằng nhôm.

Đồng thường được ưa chuộng hơn vì tính dẫn nhiệt và dẫn điện tốt, nhưng nhôm cũng có tính ưu việt riêng nhờ nhẹ hơn và đặc biệt là giá thành thấp hơn. Vào tháng 5, Morgan Stanley dự đoán, nếu giá đồng tiếp tục neo quanh mốc 10.000 USD/tấn, các hãng sản xuất máy điều hòa sẽ đẩy nhanh nỗ lực thay thế đồng bằng nhôm.

Tại Trung Quốc, các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Thiết bị Gia dụng đang làm việc cùng các tập đoàn sản xuất đồ gia dụng lớn nhất đất nước như Gree Electric Appliances và Haier Smart Home để tăng lượng nhôm sử dụng trên các máy điều hòa. Dù vậy, Gree và Haier cho biết hai hãng chưa có kế hoạch cụ thể, theo Bloomberg.

Hiện nay, trở ngại lớn nhất đối với việc sử dụng nhôm chính là sự phản đối từ người tiêu dùng, vì họ thường ưa thích các máy điều hòa làm bằng đồng hơn. Khi giá đồng leo thang trong giai đoạn 2005 - 2011, các hãng điều hòa cũng từng tính đến việc thay thế đồng bằng chất liệu nhôm nhưng lại vấp phải rào cản này.

3. Nhu cầu chậm lại, giá cao su vẫn ở mức thấp

Tại Sở Giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM), giá cao su giao kỳ hạn tháng 9/2021 trên sàn Osaka giao dịch ở mức 188,7 Yen/kg. Kỳ hạn tháng 10/2021 đạt mức 190,5 Yen/kg, kỳ hạn tháng 11/2021 đạt mức 194,4, giảm 7,3 Yen. Theo đó, giá cao su tại Nhật Bản đi ngang, sau khi chạm xuống mức thấp nhất gần 11 tháng, do nhà đầu tư săn giá hời sau nhiều phiên giá giảm thấp. Giá đã xuống chỉ 188,7 Yen, thấp nhất kể từ ngày 16/10/2020, trong bối cảnh lo lắng dai dẳng về nhu cầu giảm ở Trung Quốc - nước nhập khẩu cao su hàng đầu thế giới.

Tại Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), giá cao su giao kỳ hạn tháng 9/2021 ghi nhận mức 12.975 Nhân dân tệ/tấn, không thay đổi so với phiên giao dịch trước đó. Kỳ hạn tháng 10/2021 ở mức 12.985 Nhân dân tệ/tấn, không thay đổi so với giao dịch trước đó, kỳ hạn tháng 11/2021 ở mức 12.975 Nhân dân tệ/tấn, không thay đổi so với giao dịch trước đó. Giá cao su trên sàn Thượng Hải vẫn ổn định, sau khi kéo dài chuỗi 3 phiên giảm liên tiếp. Kinh tế Trung Quốc đã phục hồi mạnh mẽ sau đợt sụt giảm hồi năm ngoái do Covid-19, nhưng gần đây có dấu hiệu mất đà do dịch bệnh bùng phát trở lại, giá nguyên liệu tăng cao và chiến dịch cắt giảm lượng khí thải carbon.

Theo thống kê của Cơ quan Hải quan Trung Quốc, trong 7 tháng đầu năm 2021, nhập khẩu cao su (mã: HS 4001, 4002, 4003, 4005) của Trung Quốc đạt 7,03 tỷ USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm 2020. Thị phần cao su Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc chiếm 15,3% trong 7 tháng đầu năm 2021.

Có các dấu hiệu phục hồi kinh tế tại một số nền kinh tế lớn nhờ dịch bệnh được kiểm soát, các biện pháp kiểm soát dịch được nới lỏng dẫn tới dự báo nhu cầu cao su tự nhiên toàn cầu ở mức 13,9 triệu tấn, tăng 7,2% so với năm 2020.

Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội Các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), dựa trên những ước tính sơ bộ từ các nước thành viên, dự báo sản lượng cao su tự nhiên năm 2021 giảm xuống còn 13,78 triệu tấn. Thị trường cao su thế giới đang phải đối mặt với nhiều nỗi lo như biến thể Delta đang hoành hành, giá cước vận chuyển tăng vọt và nhu cầu cao su trên toàn cầu đang chậm lại.

Thị trường cao su trong nước

Từ đầu tháng 8/2021 đến nay, giá mủ cao su nguyên liệu trên cả nước không có nhiều biến động. Giá mủ cao su tươi hôm nay tại Bình Phước được các thương lái thu mua giao động từ 315 - 320 đồng/ độ mủ. Nhiều hộ nông dân trồng cao su tiểu điền ngưng cạo mủ để thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16. Tại Đắk Lắk, giá mủ chén đầu cũng ghi nhận mức 16.000-18.000 đồng/kg tùy loại. Tại Bình Dương, giá thu mua mủ cao su nguyên liệu dao động khoảng 337-340 đồng/độ mủ.

ig right Neteller nyse right adver right
APPROVED BROKERS
nyse main right net_home_top Main Right TOP 12 Main Right TOP 11 Main Right TOP 10 Main Right TOP 09 Main Right TOP 07 Main Right TOP 06 Main Right TOP 05 Main Right TOP 04 Main Right TOP 03 Main Right TOP 01
18-09-2021 01:45:41 (UTC+7)

EUR/USD

1.1727

-0.0037 (-0.31%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (4)

Sell (3)

EUR/USD

1.1727

-0.0037 (-0.31%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (4)

Sell (3)

GBP/USD

1.3738

-0.0050 (-0.36%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (7)

Sell (2)

USD/JPY

109.96

+0.26 (+0.23%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (5)

Sell (1)

AUD/USD

0.7274

-0.0015 (-0.21%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

USD/CAD

1.2746

+0.0065 (+0.51%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (1)

Sell (5)

EUR/JPY

128.95

-0.10 (-0.08%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

EUR/CHF

1.0933

+0.0022 (+0.20%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (1)

Sell (4)

Gold Futures

1,752.75

-3.95 (-0.22%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (9)

Sell (1)

Silver Futures

22.402

-0.392 (-1.72%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

Copper Futures

4.2475

-0.0340 (-0.79%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

Crude Oil WTI Futures

72.00

-0.56 (-0.77%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (3)

Sell (2)

Brent Oil Futures

75.37

-0.30 (-0.40%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (1)

Natural Gas Futures

5.070

-0.265 (-4.97%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

US Coffee C Futures

186.75

-1.40 (-0.74%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (7)

Sell (5)

Indicators:

Buy (5)

Sell (3)

Euro Stoxx 50

4,130.84

-39.03 (-0.94%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (7)

Sell (2)

S&P 500

4,435.40

-38.36 (-0.86%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (7)

Sell (0)

DAX

15,490.17

-161.58 (-1.03%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (6)

Sell (2)

FTSE 100

6,963.64

-63.84 (-0.91%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (8)

Sell (1)

Hang Seng

24,920.76

+252.91 (+1.03%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (5)

Sell (0)

US Small Cap 2000

2,226.15

-10.13 (-0.45%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

IBEX 35

8,760.90

+27.20 (+0.31%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (10)

BASF SE NA O.N.

63.085

-2.125 (-3.26%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

Bayer AG NA

45.07

-0.57 (-1.25%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Allianz SE VNA O.N.

190.23

-2.24 (-1.16%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Adidas AG

281.60

-3.70 (-1.30%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (6)

Deutsche Lufthansa AG

8.210

+0.209 (+2.61%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (2)

Sell (1)

Siemens AG Class N

148.76

-1.28 (-0.85%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

Deutsche Bank AG

11.080

-0.025 (-0.23%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (5)

Sell (7)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

    EUR/USD 1.1727 Neutral  
    GBP/USD 1.3738 Buy  
    USD/JPY 109.96 ↑ Buy  
    AUD/USD 0.7274 ↑ Buy  
    USD/CAD 1.2746 ↑ Sell  
    EUR/JPY 128.95 ↑ Buy  
    EUR/CHF 1.0933 Neutral  
    Gold 1,752.75 ↑ Buy  
    Silver 22.402 ↑ Buy  
    Copper 4.2475 ↑ Buy  
    Crude Oil WTI 72.00 ↑ Buy  
    Brent Oil 75.37 ↑ Buy  
    Natural Gas 5.070 ↑ Sell  
    US Coffee C 186.75 Buy  
    Euro Stoxx 50 4,130.84 ↑ Buy  
    S&P 500 4,435.40 ↑ Buy  
    DAX 15,490.17 ↑ Buy  
    FTSE 100 6,963.64 ↑ Buy  
    Hang Seng 24,920.76 ↑ Buy  
    Small Cap 2000 2,226.15 ↑ Buy  
    IBEX 35 8,760.90 ↑ Sell  
    BASF 63.085 ↑ Sell  
    Bayer 45.07 ↑ Sell  
    Allianz 190.23 ↑ Sell  
    Adidas 281.60 ↑ Sell  
    Lufthansa 8.210 Neutral  
    Siemens AG 148.76 ↑ Sell  
    Deutsche Bank AG 11.080 ↑ Sell  
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank5,600/ 5,665
(0/ 0) # 809
SJC HCM5,600/ 5,665
(0/ 0) # 810
SJC Hanoi5,600/ 5,667
(0/ 0) # 812
SJC Danang5,600/ 5,667
(0/ 0) # 812
SJC Nhatrang5,600/ 5,667
(0/ 0) # 812
SJC Cantho5,600/ 5,667
(0/ 0) # 812
Cập nhật 18-09-2021 01:45:44
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$1,752.51 -1.62 -0.09%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩm Vùng 1 Vùng 2
RON 95-IV2149021910
RON 95-II,III2139021810
E5 RON 92-II2014020540
DO 0.05S1602016340
DO 0,001S-V1637016690
Dầu hỏa1508015380
ↂ Giá dầu thô thế giới
WTI $71.98 -0.56 -0.78%
Brent $75.36 -0.57 -0.75%
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD22.640,0022.870,00
EUR26.118,3927.477,69
GBP30.621,6331.901,01
JPY202,13213,83
KRW16,7120,34
Cập nhật lúc 18:53:14 17/09/2021
Xem bảng tỷ giá hối đoái
binance main right Fxpro aetos main right adver main right