net_left Phương Thức Thanh Toán

Lạm phát kỳ vọng và lãi suất điều hành có thể tăng trong quý đầu năm

02 Tháng Giêng 2023
Lạm phát kỳ vọng và lãi suất điều hành có thể tăng trong quý đầu năm Lạm phát kỳ vọng và lãi suất điều hành có thể tăng trong quý đầu năm
let atwWrapper,atwContainerWidth,atwSliderBox,atwTotalWidth; function initATWSlider() { atwWrapper = $('.relatedInstruments'); atwSliderBox = atwWrapper.find('.slider'); atwContainerWidth = atwWrapper.width(); atwTotalWidth = atwSliderBox.width(); if(window.domainId === '2' || window.domainId === '3'){ atwWrapper.find('.sliderRight').addClass('js-slider-prev'); atwWrapper.find('.sliderLeft').addClass('js-slider-next'); } else { atwWrapper.find('.sliderRight').addClass('js-slider-next'); atwWrapper.find('.sliderLeft').addClass('js-slider-prev'); } if(atwSliderBox.find('.instrumentBox').length > 6){ atwWrapper.find('.js-slider-next').fadeIn(600); } } function atwMoveRight() { atwWrapper.find('.js-slider-prev').fadeIn(150); $(".slider > :visible:first").hide(150) $(".slider > :visible:last").next().show(150); if(!$(".slider > :visible:last").next().find('.name')()){ atwWrapper.find('.js-slider-next').fadeOut(150); return; } } function atwMoveLeft() { atwWrapper.find('.js-slider-next').fadeIn(150); $(".slider > :visible:last").hide(150); $(".slider > :visible:first").prev().show(150); if(!$(".slider > :visible:first").prev().find('.name')()){ atwWrapper.find('.js-slider-prev').fadeOut(150); return; } } initATWSlider(); //update star icon on adding/removing instrument to/from specific watchlist atwWrapper.on('click', 'label.addRow', function() { let parent = $(this).parent(); let checkedPortfolio = false; parent.find('input[type=checkbox]').each(function () { if($(this).is(':checked')){ checkedPortfolio = true; } }); let closestStar = $(this).closest('.addToPortWrapper').find('.star'); if(checkedPortfolio){ closestStar.addClass('added'); }else{ closestStar.removeClass('added'); } }); //update star icon on creating new watchlist atwWrapper.find('.js-create-watchlist-portfolio').find('a.js-create').on('click',function () { let parent = $(this).parent(); let watchlistName = parent.find('input[type=text]').val(); if(!watchlistName){ return; } let star = $(this).closest('.addToPortWrapper').find('.star'); star.addClass('added'); }); //update star icon on adding new position atwWrapper.find('.js-create-holdings-portfolio').find('.js-submit').on('click',function () { let addPositionForm = $(this).closest('.addToPortfolioPop').find('.holdingsContent'); let amount = addPositionForm.find('.js-amount').val(); if(amount < 1){ return; } let star = $(this).closest('.addToPortWrapper').find('.star'); star.addClass('added'); }); atwWrapper.find('.instrumentBox').find('.shortInfo').on('click',function () { if(!window.ga){ return; } let pairId = $(this).parent().find('.js-add-to-portfolio').attr('data-pair-id'); let pairType = window.atwPairTypes[pairId]; window.ga('allSitesTracker.send', 'event', 'content', 'symbol link clicked', '', { "dimension147":"symbol_link_clicked", "dimension163":"click", "dimension148":"symbol", "dimension162":"content add to watchlist", "dimension161":"article page", "dimension142":"article", "dimension75":pairType, "dimension138":pairId, "dimension118":"2007249" }); window.open($(this).attr('data-href')); }); window.atwPairTypes = {"954867":"futureCash"};

Vietstock - Lạm phát kỳ vọng và lãi suất điều hành có thể tăng trong quý đầu năm

Nhu cầu tiêu dùng ổn định nhờ làn gió thuận mở cửa trở lại và Tết Nguyên đán vào tháng 1 sẽ khiến lạm phát quý I/2023 tăng. Lãi suất điều hành cũng có thể tăng thêm 50 điểm cơ bản.

Kinh tế Việt Nam 2022: Tăng trưởng nhanh nhất trong 25 năm

Năm 2022, tăng trưởng GDP của kinh tế Việt Nam theo Tổng cục Thống kê đạt 8,02%. Có thể nói là  tăng trưởng GDP cả năm phù hợp với dự báo của chúng tôi ở mức +8% (so với +2,6% vào năm 2021), tốc độ nhanh nhất kể từ năm 1997.

Lạm phát có khả năng sẽ tăng cao hơn nữa trong Q1/2023 so với Q4/2022 (lạm phát toàn phần: +4,4%), được duy trì bởi nhu cầu tiêu dùng ổn định nhờ làn gió thuận mở cửa trở lại và Tết Nguyên đán (Tết) vào tháng 1. Ảnh minh họa: Mua sắm thiết yếu tại WinMart

Trong đó, riêng quý 4 tăng trưởng GDP thực tế đã giảm tốc xuống còn +5,9% (so với +13,7% trong quý 3) do các hiệu ứng so sánh thấp mờ dần và nhu cầu toàn cầu chậm lại. Dịch vụ (+8,1% so với +19,3% trong quý 3) vẫn là động lực tăng trưởng chính, trong khi công nghiệp & xây dựng giảm xuống còn +4,2% (so với +12,2% trong quý 3) do sản xuất tăng trưởng giảm tốc. Kết quả của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (+3,9% so với +3,7% trong quý 3) tương tự như quý trước.

Sản xuất bị ảnh hưởng bởi nhu cầu toàn cầu yếu hơn trong khi xuất khẩu tháng 12 giảm xuống mức hai con số. Trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu suy yếu, ngành sản xuất chứng kiến sự sụt giảm trên diện rộng trên tất cả các mảng chính. Sản xuất chiếm 23% GDP. Còn xuất khẩu hàng hóa danh nghĩa đã giảm sâu hơn -14% trong tháng 12 (so với -8,9% trong tháng 11) do mức so sánh cao và nhu cầu bên ngoài yếu, mặc dù tăng +2,2% so với tháng trước. Sắp tới quý 1/2023, xuất khẩu có thể vẫn yếu do sự suy giảm ở Hoa Kỳ và EU, hai thị trường xuất khẩu lớn nhất, mặc dù mức giảm so với cùng kỳ năm ngoái có thể quay trở lại mức một chữ số nhờ mức so sánh thấp của năm ngoái sẽ trở nên thuận lợi hơn trong khoảng tháng 1 đến tháng 3. Nhập khẩu hàng hóa danh nghĩa đã giảm -8,1% trong tháng 12 (so với -7,7% trong tháng 11), tăng +3,1% so với tháng trước.

Thặng dư thương mại hàng hóa thu hẹp xuống còn 500 triệu USD trong tháng 12 (so với 742 triệu USD trong tháng 11) do xuất khẩu giảm nhiều hơn nhập khẩu. Thặng dư thương mại cả năm là 11,2 tỷ USD (so với 3,3 tỷ USD vào năm 2021).

Tài khoản vãng lai được cải thiện lên -0,6% GDP trong quý 3 (số liệu mới nhất) trên cơ sở cả bốn quý (so với -2% trong quý 2), nhờ thặng dư hàng hóa được cải thiện (6,7% so với 5,2% trong quý 2) do giá dầu giảm và dịch vụ giảm ít hơn (-3,8% so với -4,2% trong quý 2) nhờ phục hồi du lịch trong nước. Thâm hụt tài khoản vãng lai có thể tăng lên trong quý 4 do xuất khẩu yếu hơn kéo thặng dư thương mại thu hẹp, mặc dù được bù đắp một phần nhờ doanh thu du lịch cải thiện.

Nhìn chung, trong năm 2022, lạm phát chung ở mức +3,2% (so với +1,8% vào năm 2021), phù hợp với dự báo của chúng tôi. Lạm phát cơ bản tăng lên +2,4% (so với +0,8% vào năm 2021).

Theo quan điểm của chúng tôi, lạm phát có khả năng sẽ tăng cao hơn nữa trong quý 1/2023 so với quý 4/2022 (lạm phát toàn phần: +4,4%), được duy trì bởi nhu cầu tiêu dùng ổn định nhờ làn gió thuận mở cửa trở lại và Tết Nguyên đán (Tết) vào tháng 1, cũng như việc hết hạn chương trình giảm 2% thuế VAT vào cuối tháng. Chúng tôi duy trì dự báo lạm phát chung năm 2023 ở mức +4,3%.

Dự báo lãi suất điều hành có thể +50 điểm vào quý đầu năm

Chúng tôi giữ nguyên quan điểm rằng tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chậm lại ở mức +6% vào năm 2023 (so với +8% vào năm 2022), và +6,5%  vào năm 2024. Lợi thế từ làn gió mở cửa trở lại sẽ mờ dần và bị áp đảo bởi nhu cầu bên ngoài yếu hơn, đặc biệt là từ Mỹ và EU, mặc dù nhu cầu bên ngoài sẽ được hỗ trợ một phần bởi việc mở cửa trở lại của Trung Quốc.

Lãi suất dự báo có thể tăng thêm +50 điểm cơ bản và có thể ngay trong quý đầu năm nếu Fed tiếp tục tăng lãi suất và lạm phát tăng. Lưu ý là ngay trong ngày đầu năm áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường mới và chưa đến kỳ điều hành, giá xăng đã tăng thêm +1.045đ/lít (cho RON92). Ảnh: Quốc Tuấn

Trong khi đó, xuất khẩu suy yếu, chính sách tiền tệ thắt chặt hơn và căng thẳng về thanh khoản bất động sản sẽ lan rộng làm suy yếu nhu cầu trong nước. Chính phủ đã đề xuất sửa đổi các quy định về thị trường trái phiếu theo Nghị định 65 được ban hành vào tháng 9 để giảm rủi ro tái cấp vốn cho trái phiếu doanh nghiệp vào năm 2023. Những sửa đổi này bao gồm việc cho phép các công ty kéo dài thời hạn trái phiếu doanh nghiệp thêm tối đa 2 năm nếu được trái chủ chấp thuận và hoãn thực hiện của một số quy định mới thêm một năm nữa.

Tuy nhiên, vẫn có khả năng tình trạng khó khăn về thanh khoản của các nhà phát triển vẫn tiếp diễn, do nhu cầu phát hành trái phiếu mới của nhà đầu tư có thể mất thời gian để phục hồi trong bối cảnh tâm lý lo ngại sau những biến động để hướng đến minh bạch thị trường đã diễn ra ở năm 2022, và phần nào làm gia tăng những khó khăn về kinh tế vĩ mô cũng như chi phí đi vay cao.

Chúng tôi tiếp tục dự đoán lãi suất điều hành sẽ tăng thêm +50 điểm cơ bản vào năm 2023, có thể là trong quý đầu tiên khi đối mặt với lạm phát gia tăng và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục tăng lãi suất.

Trước đó, chúng tôi đã đưa ra dự báo lạm phát Việt Nam sẽ ở mức +4,3% vào năm 2023 và +3,9% vào năm 2024 (so với +3,2% vào năm 2022). Lạm phát sẽ vẫn tăng cao trong nửa đầu năm 2023 và giảm bớt sau đó do nhu cầu chậm lại. Nhưng lạm phát bên ngoài giảm và nhu cầu trong nước chậm lại sẽ dẫn đến sự cân nhắc về giá cả. Việc dự kiến NHNN tăng thêm +50 điểm cơ bản trong các đợt tăng lãi suất chính sách vào năm 2023, và có khả năng diễn ngay trong quý 1, là  với điều kiện lạm phát tăng và các đợt tăng lãi suất tiếp theo của Fed. Sau đó, NHNN có thể tạm dừng các đợt tăng lãi suất điều hành để cân bằng mục tiêu tăng trưởng. Việt Nam vẫn cần thận trọng với những cơn gió ngược từ tăng trưởng và chính sách tiền tệ thắt chặt áp đảo trên toàn cầu.

Brian Lee Shun Rong & Chua Hak Bin, Kinh tế gia Maybank IBG

Để lại bình luận
Hot Auto Trade Bot Phương Thức Thanh Toán
BROKERS ĐƯỢC CẤP PHÉP
net_home_top Ai VIF
07-02-2023 22:36:32 (UTC+7)

EUR/USD

1.0678

-0.0052 (-0.48%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (7)

Sell (2)

EUR/USD

1.0678

-0.0052 (-0.48%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (7)

Sell (2)

GBP/USD

1.1993

-0.0023 (-0.19%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

USD/JPY

131.76

-0.89 (-0.67%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

AUD/USD

0.6894

+0.0013 (+0.19%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (4)

Sell (2)

USD/CAD

1.3463

+0.0017 (+0.13%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (6)

Sell (1)

EUR/JPY

140.70

-1.63 (-1.15%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

EUR/CHF

0.9880

-0.0080 (-0.80%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Gold Futures

1,885.45

+5.95 (+0.32%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

Silver Futures

22.267

+0.030 (+0.13%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

Copper Futures

4.0103

-0.0247 (-0.61%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (5)

Sell (3)

Crude Oil WTI Futures

75.45

+1.34 (+1.81%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (5)

Sell (3)

Brent Oil Futures

82.03

+1.04 (+1.28%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (5)

Sell (3)

Natural Gas Futures

2.537

+0.080 (+3.26%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

US Coffee C Futures

173.05

-2.65 (-1.51%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

Euro Stoxx 50

4,200.65

-4.80 (-0.11%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

S&P 500

4,098.85

-12.23 (-0.30%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (5)

DAX

15,289.85

-56.06 (-0.37%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (1)

Sell (4)

FTSE 100

7,846.27

+9.56 (+0.12%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (1)

Sell (9)

Hang Seng

21,298.70

+76.54 (+0.36%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (6)

US Small Cap 2000

1,938.05

-16.75 (-0.86%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (2)

Sell (6)

IBEX 35

9,152.83

-6.37 (-0.07%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (8)

BASF SE NA O.N.

52.845

-0.105 (-0.20%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (4)

Sell (5)

Bayer AG NA

58.97

+0.78 (+1.34%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

Allianz SE VNA O.N.

219.10

-0.20 (-0.09%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

Adidas AG

152.93

-2.43 (-1.56%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

Deutsche Lufthansa AG

9.617

-0.186 (-1.90%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (4)

Sell (3)

Siemens AG Class N

140.98

-1.98 (-1.39%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (6)

Sell (1)

Deutsche Bank AG

11.503

+0.147 (+1.29%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (1)

    EUR/USD 1.0678 Buy  
    GBP/USD 1.1993 ↑ Buy  
    USD/JPY 131.76 ↑ Sell  
    AUD/USD 0.6894 Buy  
    USD/CAD 1.3463 ↑ Buy  
    EUR/JPY 140.70 ↑ Sell  
    EUR/CHF 0.9880 ↑ Sell  
    Gold 1,885.45 ↑ Buy  
    Silver 22.267 ↑ Buy  
    Copper 4.0103 Neutral  
    Crude Oil WTI 75.45 ↑ Buy  
    Brent Oil 82.03 ↑ Buy  
    Natural Gas 2.537 ↑ Sell  
    US Coffee C 173.05 ↑ Sell  
    Euro Stoxx 50 4,200.65 ↑ Sell  
    S&P 500 4,098.85 ↑ Sell  
    DAX 15,289.85 ↑ Sell  
    FTSE 100 7,846.27 ↑ Sell  
    Hang Seng 21,298.70 ↑ Sell  
    Small Cap 2000 1,938.05 ↑ Sell  
    IBEX 35 9,152.83 ↑ Sell  
    BASF 52.845 Neutral  
    Bayer 58.97 ↑ Buy  
    Allianz 219.10 ↑ Buy  
    Adidas 152.93 ↑ Sell  
    Lufthansa 9.617 Neutral  
    Siemens AG 140.98 Buy  
    Deutsche Bank AG 11.503 ↑ Buy  
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank6,650/ 6,710
(10/ 10) # 1,344
SJC HCM6,655/ 6,735
(15/ 15) # 1,371
SJC Hanoi6,655/ 6,737
(15/ 15) # 1,373
SJC Danang6,655/ 6,737
(15/ 15) # 1,373
SJC Nhatrang6,655/ 6,737
(15/ 15) # 1,373
SJC Cantho6,655/ 6,737
(15/ 15) # 1,373
Cập nhật 07-02-2023 22:36:34
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$1,869.45 +1.15 0.06%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩm Vùng 1 Vùng 2
RON 95-V24.00024.480
RON 95-III23.14023.600
E5 RON 92-II22.32022.760
DO 0.05S22.52022.970
DO 0,001S-V24.28024.760
Dầu hỏa 2-K22.57023.020
ↂ Giá dầu thô thế giới
WTI $75.60 -0.84 -1.12%
Brent $81.79 -0.58 -0.72%
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD23.420,0023.790,00
EUR24.663,7826.055,52
GBP27.653,4728.844,48
JPY174,04184,33
KRW16,1919,73
Cập nhật lúc 18:50:03 07/02/2023
Xem bảng tỷ giá hối đoái
Phương Thức Thanh Toán