net_left Phương Thức Thanh Toán

Mòn mỏi chờ nới room tín dụng

22 Tháng Bảy 2022
Mòn mỏi chờ nới room tín dụng Mòn mỏi chờ nới room tín dụng

Vietstock - Mòn mỏi chờ nới room tín dụng

Từ tháng 5, một số nhà băng có tốc độ tăng trưởng tín dụng mạnh đã xin thêm hạn mức tín dụng cho hoạt động của năm.

Thế nhưng đã chuẩn bị bước qua tháng 8, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có động thái nào để nới room tín dụng. Sự thận trọng này đang khiến cả ngân hàng và khách vay đều như ngồi trên đống lửa.

Rón rén giải ngân

Nhắc đến vay vốn ngân hàng (NH), anh Phạm Chinh (TP.Hà Nội) lắc đầu ngao ngán khi nhớ đến cảnh chờ 24 ngày vẫn không thể nhận được tiền giải ngân. Anh Chinh cho biết mình là khách hàng VIP của một số nhà băng nhưng với khoản vay 6 tỉ đồng, thời gian chờ đã khá lâu mà anh cũng không biết có được vay hay không. Do tới hạn phải đóng tiền nhận nhà, không thể chờ thêm nên anh phải xoay sở bán nhanh căn nhà khác với giá rẻ hơn giá thị trường để giải quyết công việc của mình. Đó cũng là tình trạng của bà Nguyễn Thị Kiều (H.Nhà Bè, TP.HCM) mới đây vay hơn 2 tỉ đồng cũng phải chờ gần 1 tuần, NH mới giải ngân. Theo lời nhân viên tín dụng NH, do hạn mức tín dụng của NH hơi “căng” nên phải chờ khách hàng cũ trả nợ mới có thể giải ngân khoản vay mới. “Tôi cũng đánh cược chờ vì không còn cách nào khác. May quá vì không bị mất tiền cọc mấy trăm triệu đồng”, bà Kiều kể lại.

Các ngân hàng đang chờ được nới room tín dụng để có thể cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngọc Thắng

Nữ giám đốc một doanh nghiệp (DN) tại TP.HCM thì “than trời” khi cho biết do công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại nên làm hồ sơ hơi khó, phải có hạn mức được cấp của NH thời điểm này mới có thể vay được và đặc biệt là hồ sơ vay bị các NH xét rất kỹ, yêu cầu nhiều thủ tục chứ không như trước đây và đặc biệt là lãi suất cho vay cũng rất cao, lên 8,2%/năm.

Thị trường vốn khó khăn là do room tín dụng của các nhà băng vẫn bị treo. Nếu như mọi năm, cứ đến khoảng tháng 6 là NH Nhà nước (NHNN) cấp hạn mức tín dụng thêm cho các NH thương mại, nhưng nay gần hết tháng 7, các nhà băng vẫn ngóng chưa biết đến khi nào. Những NH hết hạn mức sớm thì như ngồi trên lửa. Ví dụ đầu năm 2022, NHNN giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho MB với mức 15%, Vietcombank (HM:VCB) ở mức 10%, nhưng chỉ mấy tháng đầu năm 2 nhà băng này đã sử dụng gần hết. Hay Agribank được giao 7% thì nay cũng đã dùng đến 6%. Tương tự, các NH khác cũng ghi nhận tăng trưởng cho vay ở mức cao như VPBank (HM:VPB) tăng 10,3%, HDBank (HM:HDB) tăng 10,8%, SCB tăng 9,7%, SeABank tăng 9,2%, MSB tăng 8,9%, Techcombank (HM:TCB) tăng 7,9%... “NH nào cũng ngóng hạn mức hằng ngày vì khách hàng hiện hữu không vay được, họ sẽ sang NH khác. Sợ nhất là những DN hoạt động xuất nhập khẩu có nhu cầu vay trong giai đoạn này mà không đáp ứng sẽ gây khó cho họ trong hoạt động kinh doanh. Ở đây không chỉ vấn đề tín dụng mà NH còn mất khách hàng sử dụng dịch vụ khác”, phó tổng giám đốc một NH thương mại cổ phần lớn than. Biện pháp kỹ thuật mà một số nhà băng bắt đầu áp dụng là tăng lãi suất cho vay từ 0,5 - 1 điểm %/năm so với trước để hạn chế hồ sơ vay.

Khi NHNN chưa thể bỏ được hạn mức tín dụng thì cần sớm nới room tín dụng cho các NH để cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế vào cao điểm những tháng cuối năm, tránh tình trạng “tắc nghẽn” vốn, lãi suất cho vay tăng cao mà không thể kiểm soát lạm phát.

Ông Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn tài chính, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM

Về tình trạng này, ông Nguyễn Đức Độ, phó viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, cho rằng các nhà băng phải tự điều tiết tỷ lệ tín dụng được cấp từ đầu năm chứ không thể mới có mấy tháng mà đã dùng hết rồi ngồi chờ. Cho đến thời điểm này, NHNN vẫn giữ tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2022 ở mức 14% là ổn. Tín dụng bị khống chế có 2 lý do, đó là nhìn về dài hạn thì việc mở tín dụng quá mức có thể tác động đến lạm phát trong tương lai; bên cạnh đó là nguy cơ nợ xấu gia tăng khi tỷ lệ tín dụng trên tăng trưởng GDP hiện ở mức cao (khoảng 120%). “Hạn chế tín dụng, khách hàng sẽ khó tiếp cận vốn hơn, lãi vay cao hơn nhưng không còn cách giải quyết nào khác ngoài việc các NH phải điều chỉnh lại tín dụng, tự cân đối để cho vay”, ông Độ nhấn mạnh.

Cần sớm nới room tín dụng

Ông Phạm Ngọc Hưng, Phó chủ tịch Hiệp hội DN TP.HCM, lại cho rằng các NH cần được nới room tín dụng để có thể triển khai gói hỗ trợ lãi suất. Hiện gói hỗ trợ tín dụng lãi suất 2% chưa triển khai mà hạn mức tín dụng NH đã hết nên các DN thuộc diện được vay theo gói hỗ trợ này vẫn không tiếp cận được. Bên cạnh đó, NH cũng nên mở rộng đối tượng được hỗ trợ lãi suất 2%. Bởi có nhiều DN hoạt động đa ngành, trong đó chỉ có 1 ngành nghề được hỗ trợ lãi suất cho vay, vậy DN này có được vay gói hỗ trợ lãi suất hay không cũng cần làm rõ.

Ông Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn tài chính, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, nói thẳng: Không có nước nào quản lý cấp tín dụng như VN. NHNN cần bỏ biện pháp can thiệp thông qua cấp hạn mức tín dụng mà thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế. Ở các nước, kiểm soát cung tiền qua các công cụ như thị trường mở, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc... Việc siết tín dụng cho thấy NHNN đang ưu tiên kiểm soát lạm phát nhiều hơn việc phục hồi tăng trưởng kinh tế. Trong khi nguyên nhân sâu xa của lạm phát hiện nay không phải là cung tiền mà do chi phí đẩy (đến từ giá xăng dầu cao). Do đó nên tập trung vào chính sách tài khóa nhiều hơn là chính sách tiền tệ. Mặc dù việc hút tiền về sẽ kiểm soát lạm phát nhanh hơn nhưng nó sẽ tác động gây ra nhiều hệ lụy như thanh khoản NH khó khăn, mặt bằng lãi suất tăng lên..., gây ảnh hưởng đến phục hồi kinh tế sau đại dịch.

Thanh Xuân

Để lại bình luận
Hot Auto Trade Bot Phương Thức Thanh Toán
BROKERS ĐƯỢC CẤP PHÉP
net_home_top Ai VIF
11-08-2022 08:40:28 (UTC+7)

EUR/USD

1.0286

-0.0011 (-0.11%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (9)

EUR/USD

1.0286

-0.0011 (-0.11%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (9)

GBP/USD

1.2195

-0.0031 (-0.25%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (9)

USD/JPY

133.15

+0.28 (+0.21%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (8)

Sell (2)

AUD/USD

0.7074

-0.0003 (-0.04%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (2)

Sell (6)

USD/CAD

1.2784

+0.0010 (+0.08%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (5)

Sell (2)

EUR/JPY

136.94

+0.12 (+0.09%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (7)

Sell (5)

Indicators:

Buy (4)

Sell (2)

EUR/CHF

0.9705

+0.0002 (+0.02%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (4)

Sell (3)

Gold Futures

1,803.05

-10.65 (-0.59%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

Silver Futures

20.525

-0.217 (-1.05%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (2)

Sell (9)

Copper Futures

3.6455

+0.0093 (+0.26%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (2)

Crude Oil WTI Futures

91.63

-0.30 (-0.33%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (6)

Sell (2)

Brent Oil Futures

97.07

+0.03 (+0.03%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Natural Gas Futures

8.227

0.000 (0.00%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (10)

Sell (0)

US Coffee C Futures

220.78

+8.03 (+3.77%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (2)

Sell (8)

Euro Stoxx 50

3,749.35

+33.98 (+0.91%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (4)

Sell (6)

S&P 500

4,210.24

+87.77 (+2.13%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (5)

Sell (3)

DAX

13,700.93

+165.96 (+1.23%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (2)

Sell (4)

FTSE 100

7,507.11

+18.96 (+0.25%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (4)

Sell (5)

Hang Seng

19,841.50

+230.66 (+1.18%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (5)

Sell (1)

US Small Cap 2000

1,969.25

+56.36 (+2.95%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (6)

Sell (1)

IBEX 35

8,352.80

+40.90 (+0.49%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (6)

Sell (1)

BASF SE NA O.N.

44.445

+0.450 (+1.02%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (5)

Sell (7)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

Bayer AG NA

51.90

-0.26 (-0.50%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (1)

Allianz SE VNA O.N.

178.50

-0.06 (-0.03%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (8)

Sell (1)

Adidas AG

173.36

+4.36 (+2.58%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (3)

Sell (5)

Deutsche Lufthansa AG

6.611

+0.038 (+0.58%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (1)

Siemens AG Class N

109.18

+2.66 (+2.50%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

Deutsche Bank AG

8.829

+0.102 (+1.17%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (1)

Sell (6)

 EUR/USD1.0286↑ Sell
 GBP/USD1.2195↑ Sell
 USD/JPY133.15↑ Buy
 AUD/USD0.7074↑ Sell
 USD/CAD1.2784↑ Buy
 EUR/JPY136.94Buy
 EUR/CHF0.9705Neutral
 Gold1,803.05↑ Sell
 Silver20.525↑ Sell
 Copper3.6455↑ Buy
 Crude Oil WTI91.63↑ Buy
 Brent Oil97.07↑ Sell
 Natural Gas8.227↑ Buy
 US Coffee C220.78Sell
 Euro Stoxx 503,749.35Sell
 S&P 5004,210.24↑ Buy
 DAX13,700.93Neutral
 FTSE 1007,507.11Sell
 Hang Seng19,841.50Buy
 Small Cap 20001,969.25↑ Buy
 IBEX 358,352.80↑ Buy
 BASF44.445↑ Sell
 Bayer51.90↑ Buy
 Allianz178.50↑ Buy
 Adidas173.36Neutral
 Lufthansa6.611↑ Buy
 Siemens AG109.18↑ Buy
 Deutsche Bank AG8.829Sell
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank6,600/ 6,700
(0/ 0) # 1,632
SJC HCM6,600/ 6,700
(0/ 0) # 1,632
SJC Hanoi6,600/ 6,702
(0/ 0) # 1,634
SJC Danang6,600/ 6,702
(0/ 0) # 1,634
SJC Nhatrang6,600/ 6,702
(0/ 0) # 1,634
SJC Cantho6,600/ 6,702
(0/ 0) # 1,634
Cập nhật 11-08-2022 08:40:30
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$1,787.56-6.62-0.37%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩmVùng 1Vùng 2
RON 95-V26.28026.800
RON 95-III25.60026.110
E5 RON 92-II24.62025.110
DO 0.05S23.90024.370
DO 0,001S-V25.88026.390
Dầu hỏa 2-K24.53025.020
ↂ Giá dầu thô thế giới
WTI$91.08-0.07-0.08%
Brent$96.49-00%
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD23.220,0023.530,00
EUR23.475,2124.789,85
GBP27.818,8429.005,24
JPY171,29181,34
KRW15,5318,92
Cập nhật lúc 08:39:19 11/08/2022
Xem bảng tỷ giá hối đoái
Phương Thức Thanh Toán