binance left Coinmarketcap net_left adver left

Cơ hội phục hồi nền kinh tế Việt Nam trong năm 2022

04 Tháng Giêng 2022
Cơ hội phục hồi nền kinh tế Việt Nam trong năm 2022 Cơ hội phục hồi nền kinh tế Việt Nam trong năm 2022

Vietstock - Cơ hội phục hồi nền kinh tế Việt Nam trong năm 2022

Năm 2021, sự bùng phát trở lại và kéo dài của đại dịch COVID-19 đã tác động không nhỏ đến mọi mặt kinh tế-xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, vượt qua khó khăn, thách thức, nền kinh tế vẫn có những gam màu sáng với nhiều tín hiệu lạc quan. Điều này sẽ tạo cơ hội phục hồi nền kinh tế Việt Nam trong năm 2022.

PGS (HN:PGS).TS Đinh Trọng Thịnh: Dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 có thể đạt đến 7,5%. Ảnh: VGP/Thùy Linh

Trao đổi với chúng tôi, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, Giảng viên cấp cao Học viện Tài chính cho biết, năm 2021, đại dịch COVID-19 bùng phát mạnh mẽ đã tác động rất lớn đến nền kinh tế, nhất là các tỉnh phía nam như: TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương...

Không có cách nào tốt hơn, chúng ta phải thực hiện việc giãn cách phòng, chống dịch rốt ráo trong thời gian dài làm cho nền kinh tế xuống dốc, đặc biệt, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước. Việc này làm tăng trưởng kinh tế chậm lại. Dự báo, năm nay, mức tăng GDP chỉ vào khoảng 2,5% đến 3%.

Tuy nhiên, điểm sáng của kinh tế đầu tiên phải kể đến xuất nhập khẩu, khi lần đầu tiên chúng ta cán mốc trên 670 tỷ USD, trong đó tăng trưởng xuất khẩu đạt khoảng 18%, tăng trưởng nhập khẩu khoảng hơn 27%, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng hơn 20%.

Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, nhưng vốn đầu tư trong nước tăng, kinh tế tư nhân tăng, trong đó đầu tư nhà nước cũng tăng mạnh. Đặc biệt vốn đầu tư nước ngoài rất lớn, khoảng hơn 25 tỷ USD, xấp xỉ con số năm ngoái. Con số giải ngân năm 2021 tăng đáng kể, tương đương năm 2021. Điều này cho thấy môi trường đầu tư nước ta luôn được các nhà đầu tư trong và ngoài nước đánh giá cao.

Cộng đồng doanh nghiệp năng động và vững tin vào sự điều hành linh hoạt, hiệu quả của Chính phủ, các địa phương và triển vọng kinh tế của đất nước. Tính đến hết tháng 11/2021, tổng số doanh nghiệp thành lập mới cũng như doanh nghiệp quay trở lại hoạt động khoảng 160.000 doanh nghiệp. Khu vực doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Một số ngành công nghiệp trọng điểm và sản phẩm công nghiệp chủ lực đều có mức tăng cao.

Nguồn thu ngân sách Nhà nước tương đối tốt, đến hết tháng 11 đã đạt vượt mức dự toán ngân sách Nhà nước đưa ra, so với năm ngoái tăng trưởng 8,9%. Về chi ngân sách, năm nay tiết kiệm được chi thường xuyên rất lớn, đặc biệt chi cho hội nghị, hội thảo… từ đó tăng cường chi cho phòng chống dịch bệnh, hỗ trợ phát triển sản xuất….

Cũng theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, bội chi ngân sách năm nay khoảng 4%, bội thu năm nay có thể khoảng 3,9%, nằm trong giới hạn Quốc hội và Chính phủ cho phép. Lạm phát khoảng dưới 2% cũng rất thấp trong thời gian gần đây. Đồng Việt Nam năm nay có thể lên giá 2% so với USD, như vậy, nếu so với các đồng tiền trong khu vực là ngược chiều. Tuy nhiên, theo phương diện kinh tế vĩ mô thì điều này là tốt.

Dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng lên khoảng 110 tỷ USD, đây là con số rất cao. Từ đó làm cho cân đối vĩ mô lớn của nền kinh tế tương đối ổn định và cũng là tiền đề để phát triển trong năm 2022.

Dự báo tăng trưởng GDP năm 2022 có thể đạt đến 7,5%

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng, mặc dù có nhiều tín hiệu khá tích cực, song bức tranh kinh tế năm 2021 vẫn còn những tồn tại cần được khắc phục. Chẳng hạn như câu chuyện giải ngân vốn đầu tư công. Năm 2020, khi khóa sổ, giải ngân đầu tư công đạt 98%, nhưng năm 2021 dự kiến mức giải ngân đầu tư công chỉ đạt 80%. Trong khi đó, giải ngân đầu tư công có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm.

Ngoài ra, trong đợt dịch vừa qua, mỗi địa phương có một cách tổ chức chống dịch khác nhau dẫn đến chuỗi cung ứng bị đứt gãy, chi phí logistics tăng, tác động đến các chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí quản lý, chi phí phòng chống dịch,… Tất cả những điều này làm cho doanh nghiệp khó mở cửa để hồi phục sản xuất kinh doanh…

Nói đến bức tranh tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2022,  PGS. TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng, không cần gói hỗ trợ mới, tăng trưởng GDP năm 2022 vẫn có thể đạt 7% đến 7,5%.

Theo PGS. TS Đinh Trọng Thịnh, trong năm 2022, với đà các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tích cực đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam; các doanh nghiệp trong nước tiếp tục thành lập mới và khối doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng lên. Cùng với sự tháo gỡ khó khăn, những chính sách về hỗ trợ sản xuất kinh doanh của Chính phủ thì nền kinh tế của chúng ta sẽ tăng trưởng và phát triển một cách tốt nhất.

“Không cần phải có gói hỗ trợ mới như các đề xuất gần đây, chỉ cần thực hiện hiệu quả các gói hỗ trợ hiện có, đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động, tôi tin rằng tăng trưởng GDP năm 2022 có thể lên tới 7% đến 7,5%, nếu như không có những gì quá đột biến”, PGS. TS Đinh Trọng Thịnh khẳng định.

Chia sẻ thêm về hỗ trợ phục hồi phát triển kinh tế, PGS. TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng, điều đầu tiên quan trọng nhất là chúng ta phải sống chung tốt nhất với dịch COVID-19 thì mới phục hồi sản xuất một cách liên tục và tiếp đó là phải giữ ổn định cán cân kinh tế vĩ mô.

Hiện, nhiều người lo lắng về rủi ro “lạm phát nhập khẩu” gia tăng khi giá nguyên vật liệu đầu vào từ xăng dầu, sắt thép cho đến các hàng hóa đều tăng lên. Tuy nhiên, sự tăng giá này bắt đầu từ đầu năm 2021 và đã được chuyển hóa vào trong nền sản xuất. Năm 2021, lạm phát 2021 rơi vào khoảng 2%, con số này không quá lớn. Mặt khác, lạm phát là lạm phát năm nay so với năm sau, năm 2021 đã lạm phát, tăng giá thì năm 2022 sẽ không tăng nhiều được như thế nữa; tối đa cũng chỉ 3,7% đến 3,8%.

Nhìn chung, Chính phủ đã đề ra mục tiêu tổng quát “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19, bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của nhân dân”, cùng với “tận dụng tốt các cơ hội để thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội với các giải pháp tổng thể”. Tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế… thì cơ hội phục hồi nền kinh tế Việt Nam năm 2022 là khả quan.

Thùy Linh

Để lại bình luận
ig right nyse right Neteller adver right
BROKERS ĐƯỢC CẤP PHÉP
rakuten_main right top net_home_top ig_main right top Binance _ main right top fbs_main right top tifia_main right top
21-01-2022 02:46:52 (UTC+7)

EUR/USD

1.1331

+0.0022 (+0.19%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (1)

Sell (9)

EUR/USD

1.1331

+0.0022 (+0.19%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (1)

Sell (9)

GBP/USD

1.3578

-0.0016 (-0.12%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (0)

Sell (11)

USD/JPY

113.84

-0.25 (-0.22%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (1)

Sell (5)

AUD/USD

0.7196

-0.0029 (-0.39%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (1)

USD/CAD

1.2519

+0.0016 (+0.13%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (8)

Sell (1)

EUR/JPY

128.99

-0.04 (-0.03%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (11)

EUR/CHF

1.0369

+0.0006 (+0.05%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (3)

Gold Futures

1,839.65

-2.95 (-0.16%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (2)

Sell (7)

Silver Futures

24.560

-0.156 (-0.63%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (4)

Sell (4)

Copper Futures

4.5355

-0.0470 (-1.03%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (0)

Crude Oil WTI Futures

84.34

-1.21 (-1.41%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (1)

Brent Oil Futures

87.31

-1.07 (-1.21%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (2)

Natural Gas Futures

3.927

+0.125 (+3.29%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

US Coffee C Futures

242.75

-1.70 (-0.70%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (10)

Euro Stoxx 50

4,299.61

+31.33 (+0.73%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

S&P 500

4,482.73

-50.03 (-1.10%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

DAX

15,912.33

+102.61 (+0.65%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

FTSE 100

7,585.01

-4.65 (-0.06%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (10)

Sell (0)

Hang Seng

24,898.00

-54.35 (-0.22%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (3)

Sell (2)

US Small Cap 2000

2,024.04

-38.75 (-1.88%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (2)

Sell (7)

IBEX 35

8,814.60

+39.70 (+0.45%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

BASF SE NA O.N.

67.440

-0.360 (-0.53%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

Bayer AG NA

52.70

+0.58 (+1.11%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (3)

Sell (3)

Allianz SE VNA O.N.

224.80

+1.00 (+0.45%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (7)

Sell (1)

Adidas AG

255.65

+2.05 (+0.81%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Deutsche Lufthansa AG

7.093

+0.273 (+4.00%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (0)

Sell (10)

Siemens AG Class N

146.90

+2.56 (+1.77%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (1)

Deutsche Bank AG

11.676

-0.108 (-0.92%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (5)

Sell (7)

Indicators:

Buy (4)

Sell (3)

 EUR/USD1.1331↑ Sell
 GBP/USD1.3578↑ Sell
 USD/JPY113.84Neutral
 AUD/USD0.7196↑ Buy
 USD/CAD1.2519Neutral
 EUR/JPY128.99↑ Sell
 EUR/CHF1.0369↑ Buy
 Gold1,839.65↑ Sell
 Silver24.560Neutral
 Copper4.5355↑ Buy
 Crude Oil WTI84.34↑ Buy
 Brent Oil87.31↑ Buy
 Natural Gas3.927Neutral
 US Coffee C242.75↑ Sell
 Euro Stoxx 504,299.61↑ Buy
 S&P 5004,482.73↑ Sell
 DAX15,912.33↑ Buy
 FTSE 1007,585.01↑ Buy
 Hang Seng24,898.00Buy
 Small Cap 20002,024.04↑ Sell
 IBEX 358,814.60↑ Buy
 BASF67.440↑ Buy
 Bayer52.70Neutral
 Allianz224.80↑ Buy
 Adidas255.65↑ Sell
 Lufthansa7.093↑ Sell
 Siemens AG146.90↑ Buy
 Deutsche Bank AG11.676Neutral
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank6,125/ 6,165
(10/ 10) # 1,122
SJC HCM6,120/ 6,180
(10/ 10) # 1,137
SJC Hanoi6,120/ 6,182
(10/ 10) # 1,139
SJC Danang6,120/ 6,182
(10/ 10) # 1,139
SJC Nhatrang6,120/ 6,182
(10/ 10) # 1,139
SJC Cantho6,120/ 6,182
(10/ 10) # 1,139
Cập nhật 21-01-2022 02:46:54
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$1,839.14+0.060.00%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩmVùng 1Vùng 2
RON 95-IV2437024850
RON 95-II,III
E5 RON 92-II2315023610
DO 0.05S1823018590
DO 0,001S-V1858018950
Dầu hỏa1713017470
ↂ Giá dầu thô thế giới
WTI$84.23-0.34-0.40%
Brent$86.72-0.09-0.11%
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD22.450,0022.760,00
EUR24.965,0926.364,70
GBP29.963,4031.243,06
JPY192,94204,24
KRW16,3919,97
Cập nhật lúc 14:44:47 21/01/2022
Xem bảng tỷ giá hối đoái
binance main right Fxpro Main Right aetos main right adver main right